Skip to main content

Văn Hoá Nhân Trí Hùng

Khởi thảo Kinh Thi Việt Nam mang mục đích mong mỏi có thể kết hợp Người Việt bằng những tư duy truyền thống cao đẹp, từng bị các nền văn hóa ngoại lai xâm nhập làm cho vong bản.

Muốn vậy, trước hết chúng ta cần minh định sự tư duy bấy nay của chúng ta ra sao?

Câu chuyện 'Thầy bói xem voi' cho thấy ai cũng đúng, nhưng chỉ đúng trong phạm vi hiểu biết của mình mà thôi. Điều ác hại gây chia rẽ đối đầu bấy lâu nay, là do ai nấy tự cho mình là đúng, người khác là sai?!

Triết gia Pháp Jean Paul Sartre từng có một ví dụ rất thú vị, khi cho rằng: Những đứa trẻ lên 3 cởi truồng mà không mắc cở, là do chúng chỉ mới có cái nhìn từ nó đến người khác, chưa có được cái nhìn của những người khác vào nó.

Như vậy nếu chúng ta không tôn trọng các ý kiến khác biệt, chúng ta sẽ chẳng khác gì đứa bé lên 3, trở nên thiển cận vì chỉ có được cái nhìn một chiều?!

Hiểu như vậy, chúng ta sẽ thấy các lý lẽ của các tôn giáo, các đảng phái... đều đúng, nhưng chỉ đúng trong những giới hạn về không gian và thời gian nào đó mà thôi, nên không thể nào là những chân lý chung bất biến.

Việc tung hô Khổng Tử là 'Vạn thế sư biểu', lúc đầu do Tống Mỹ Linh vợ Tưởng Giới Thạch qua Mỹ vận động xưng tụng, không hiểu sao nay lại được coi như một nhận định chung?!

Đây là trường hợp điển hình cho những xưng tụng thể hiện tư duy một chiều như cái nhìn của đứa bé 3 tuổi, chưa biết trời cao đất rộng ra sao, biển học mênh mông như thế nào. Vì thế nên triết học mới khẳng định chỉ có những tư duy về tư duy gần với chân lý nhất mà thôi?

Do vậy sự hiểu biết bình thường do học vấn và kinh nghiệm, chỉ cho ta cái kiến thức của người 'học thức', chưa thể đạt tới trình độ kiến thức của người 'trí thức'.

Vì người có trí sẽ không bao giờ dám coi nhẹ các chính kiến của người khác, mà nhận ra mẫu số chung để hướng tới là Quốc gia & Dân tộc, rộng hơn nữa là nhân loại; hiểu các tôn giáo và đảng phái chỉ là những tử số làm phong phú hóa mẫu số Quốc gia & Dân tộc, chứ không thể nào vượt lên trên, vượt ra ngoài.

Một khi trong một nước mà tôn giáo và đảng phái chính trị làm tổn hại đến sự thanh bình thịnh vượng của Quốc gia & Dân tộc, tất cả sẽ bị suy vong.

Trường hợp Việt Nam Cộng Hòa từ 1954 đến 1975, cho thấy hậu quả của sự đối đầu giữa các tử số đã khiến mẫu số chung bị tàn hại ra sao? Một khi mẫu số chung không còn, thì các tử số cũng không chốn dung thân!


Vậy tư duy nào nên theo?


Nhân loại thường coi chữ 'Dũng' là trọng, như Phật Giáo đề cao 'Bi - Trí - Dũng', Nho Giáo đề cao 'Nhân Trí Dũng', tức những tao luyện chỉ nhằm kiện toàn bản thân theo một ý hướng, hơn là hướng đến những điều công ích lớn lao cho Quốc gia & Dân tộc như chữ 'Hùng'?

Thời Tam Quốc bên Trung Quốc có rất nhiều nhân vật được ca ngợi, nhưng chỉ là dũng tướng, dũng sĩ, nên Tào Tháo nói với Lưu Bị: 'Trong thiên hạ chỉ có tôi và ông là anh hùng' - nhưng cả hai đều là gian hùng?


Vậy mà từ khi Việt Nam lập quốc, Lạc Long Quân và Âu Cơ đã bắt con cháu bao đời phải sống 'Hùng', khi 18 đời vua đều lấy chữ 'Hùng' làm vương hiệu?

Vì phải sống hùng để giúp Dân & Nước, nên Người Việt từ xa xưa đã không chấp nhận bất cứ ngôn ngữ cử chỉ nào thể hiện sự thấp hèn, như bẩm báo qùy lậy qụy lụy luồn cúi...

Bằng chứng là từ các hình vẽ trên trống đồng, đến lễ nghi lên đồng của Đạo Mẫu Việt Nam, tất cả đều đứng và múa hát? Chỉ sau này khi giới học thức tha hóa vong bản, mới đưa các lối tế lễ 'hưng - bái' của Trung Quốc vào các nghi lễ của Việt Nam.

Trong Tam Tài 'Thiên - Địa - Nhân', Người Việt dù bái thiên, bái địa, hay bái nhân đều trực tiếp liên hệ, không cần thông qua kinh sách và tu sĩ. Muốn điều gì, Người Việt tự khấn vái hoặc viết sớ đọc rồi đốt, gửi thẳng cho Thánh Thần. Ông Từ tại các đình đền Việt chỉ có nhiệm vụ bảo vệ giữ gìn chốn thờ phượng, không hề được lo việc lễ nghi, rao giảng.

Điều này được thi hào Nguyễn Công Trứ đề cao qua 4 câu thơ:


'Đã mang tiếng đứng trong Trời Đất,

'Phải có danh gì với núi sông.

'Trong lúc trần ai, ai dễ biết?

'Rồi ra mới rõ mặt Anh Hùng.


Bấy nay Người Việt chúng ta đều có lòng yêu nước, nhưng sở dĩ không biết đặt tình cảm này vào đâu, mang những ý nghiã nào, thực hiện ra sao... là do giới học thức bao đời, bị cái học đề cao công việc hết làm 'bầy tôi' đến làm 'bồi Tây', rồi 'bồi Nga Hoa', làm cho mụ mẫm?!

Từ các vị được sử sách tôn sùng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Ngô Đình Nhu... từng một lòng tìm đường cứu nước cứu dân, nhưng đều thất bại vì chủ trương Đông Du, Duy Tân, Nhân Vị... đều không thể áp dụng cho Việt Nam.

Lý do, gần 5.000 năm trước, Việt Nam từ thời Lập quốc, hai vị khai quốc là Âu Cơ và Lạc Long Quân đã mặc khải được một hệ thống tư tưởng siêu việt, truyền dạy lại cho nhân quần xã hội, qua những cổ tích, ca dao.

Chỉ cần kết hợp những câu chuyện cổ tích của Việt Nam, rồi hệ thống hóa, cũng có thể hình thành được một nền triết học uẩn áo, cao thâm:

-Về Siêu Hình Học buổi đầu có các cổ tích Trầu Cau, Đạo Mẫu... rồi qua thực tế khai triển thành tư tưởng 'Quả báo Nhỡn tiền'. Riêng Đạo Mẫu mang tính tín ngưỡng văn hóa, có những nét đặc trưng về triết học rất uyên thâm, khiến nhiều kẻ 'mắt thịt' không thể nhận ra những tình tiết uyên nguyên, coi nhẹ. Chúng tôi sẽ phân tích về Đạo Mẫu trong cuốn Triết Học Việt Nam.

-Về Chính Trị Học có các cổ tích như Bánh Dày & Bánh Chưng, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Thánh Gióng, Mỵ Châu - Trọng Thủy, Quả Dưa Đỏ... thể hiện cách chọn người, dùng người trong việc kiến quốc, phục vụ đất nước không đòi hỏi 'đời đời nhớ ơn', 'muôn năm'... rồi dùng ơn làm công trạng trấn áp như Việt Cộng. Riêng về sau có cổ tích Từ Thức rất cao thâm, chỉ khi mất nước chạy ra hải ngoại, chúng ta mới thấy nếu không sớm về quang phục quê hương, sẽ lâm vào tình cảnh như Từ Thức trở về khi mọi sự đã đổi thay. Bi kịch đổi thay thời đại chúng ta còn bi thảm hơn bao giờ hết, nếu để bọn Việt Cộng buôn dân bán nước làm mất hết mọi truyền thống tốt đẹp?!

-Về Đạo Đức Học, luân lý 'Đồng Bào' của Bà Âu Cơ, quan niệm 'anh hùng' qua thông điệp 18 đời vua Hùng, đều dùng chữ 'Hùng' làm niên hiệu, cho thấy nhân sinh quan và vũ trụ quan Việt thể hiện trong thế Tam Tài 'Thiên - Địa - Nhân' là Nhân Hùng, chứ không phải Nhân Dũng như Nhân Trí Dũng của Nho Giáo, Bi Trí Dũng của Phật Giáo...

-Về Tâm Lý Học có các cổ tích Trầu Cau, An Tiêm, Vợ Chàng Trương... thể hiện mối quan hệ giữa vợ & chồng & anh & em.

Như vậy chứng tỏ chỉ một cổ tích cũng có thể bao hàm nhiều vấn đề triết học khác nhau, nêu nhiều bài học cao đẹp cận nhân tình, mà không cần rao giảng?


Tất cả nền triết học uẩn áo trên, được truyền dạy từ Mẹ Âu Cơ nên mang đặc tính nữ dịu hiền, có tình có lý, khác hẳn các giáo điều tôn giáo trên thế giới đều do nam nhân truyền dạy, mang tính giáo điều có lý mà ít có tình.


Về Hình Thức truyền bá, Người Việt dùng lối thơ lục bát, điệu chẵn uyển chuyển dịu dàng đầy nữ tính, khác hẳn với các thể thơ ngũ ngôn, thất ngôn, điệu lẻ cứng rắn đầy nam tính. Những điệu ru lục bát êm ả theo tiếng võng đong đưa trong nhà, những điệu hát lục bát bay bổng trong gió đồng cỏ nội, những điệu hò điệu lý lục bát nhịp nhàng trong công việc hoặc lễ hội còn được luyến láy một cách nghệ thuật rất truyền cảm, khiến ý nghiã các câu lục bát được truyền tải ăm ắp trong cả không gian và thời gian, đi vào tâm thức mọi người, hình thành tâm hồn Việt lúc nào không hay?


Về Nội Dung truyền bá, các cổ tích ca dao tuy ngắn gọn nhưng lại có nội dung xúc tích, dễ hiểu, dễ nhớ. Nếu nội dung các kinh điển thường chỉ nêu cái tốt nhiều khi cao xa khiến người bình thường khó theo; thì cổ tích, ca dao, tục ngữ Việt thiên về nêu cái xấu để mọi người tránh, dễ theo hơn, theo hình ảnh cây sen trong bùn mà vẫn tỏa hương.

Đáng kể nhất là cổ tích, ca dao, tục ngữ Việt có nhiều truyện, nhiều câu hoàn chỉnh như một bài học, có thể tùy trình độ mà diễn giải cao thấp khác hẳn nhau.

Như truyện Thánh Gióng, ngoài chuyện đánh giặc giúp nước không cần kể công, đền công, còn nhiều ý nghiã khác cao thâm khác như:

Nhân vật Thánh Gióng nhỏ tuổi, lại không biết nói, thể hiện việc chống xâm lăng bảo vệ dân nước, ai cũng có thể làm được bất kể tuổi tác. Việc Thánh Gióng không nói, thể hiện việc chống xâm lăng cần hành động hơn là bàn bạc, nói năng vô ích? Thời Việt Nam Cộng Hòa 1954 - 1975 sở dĩ thua cũng vì các tôn giáo và đảng phái nói nhiều hơn làm, gây mâu thuẫn sát phạt nhau ác liệt, đến như ngay trong một đảng mà cũng chia thành nhiều hệ phái. Tình cảnh bại hoại tới mức bị mất nước chạy ra hải ngoại, mà hầu hết vẫn chứng nào tật ấy?!

Trong hèm được làng Gióng trình diễn hàng năm, thanh kiếm được biểu hiện việc đánh giặc, còn cái roi không chỉ dùng để thúc ngựa chạy nhanh, mà còn dùng đánh bọn giặc bị bắt sống, răn đe trước khi thả...


Tuân thủ những điều trên, trong sách Khởi Thảo Kinh Thư 3 cuốn chúng tôi đã soạn thảo, luôn tìm cách trích dẫn nhiều ý kiến của các tác giả khác nhau, khi tư duy về mỗi người, mỗi việc... tránh lối tư duy một chiều mà nhiều kinh sách mắc phải bấy nay.

Tuy nhiên do bị hạn hẹp về không gian và thời gian, chúng tôi không thể nào có được đầy đủ các tác phẩm và tác giả, nên mỗi người mỗi việc chỉ có thể trích dẫn được từ 5 đến 10 ý kiến khác nhau, mong mỏi sẽ có duyên may đọc thêm hầu bổ túc mỗi lần tái bản.


***


Hai cuốn Khởi thảo Kinh Thư và Kinh Thi kết hợp thành một bộ sách hoàn chỉnh, có nội dung ghi lại những nét tinh hoa trong đời sống tư tưởng & tâm lý & tình cảm truyền thống Việt Nam, từng được đề cao là một nền 'Văn Hiến 4.000 năm', rất xứng đáng là một món quà Tân Gia, Tân Hôn, phát thưởng trong các sinh hoạt Văn hóa, Giáo dục, Xã Hội...


Trân trọng,


GS Nguyễn Xuân Khoan






Dẫn Nhập


Cách nay gần 100 năm, nhiều nhà văn hóa Việt đương thời đã nhận ra tầm quan trọng của Tục ngữ & Ca Dao.


Năm 1919, học giả Đào Duy Anh nhận định:

'Nếu ta nhận rằng muốn kiến thiết văn hóa mới, ta không thể không nghiên cứu văn hóa cũ, thì sự nghiên cứu tục ngữ và ca dao, ta phải cho là cần thiết'.


Năm 1939, học giả Phan Khôi nhận định:

'Sau một hồi nghiên cứu về tục ngữ phong dao, tôi thấy ra nó có cái địa vị trong văn học vững vàng mà rực rỡ lắm. Vậy tôi muốn có nhiều người nghiên cứu thêm nữa, có lẽ sẽ phát kiến nhiều cái trọng yếu và quý giá hơn nữa chăng?'.


Năm 1958, học giả Nguyễn Văn Ngọc nhận định:

'Ngày nay, ai là người đã lưu tâm đến Quốc Văn quốc túy mà không lo sợ rằng những câu lý thú tối cổ của ông cha để lại, tức là cái kho vàng chung cho cả nhân loại, mà không chịu mau mau thu nhặt, giữ gìn lấy thì rồi tất mỗi ngày một sai suyển lưu lạc đi, thực rất là đáng tiếc. Cho nên chúng tôi quả không dám chọn, lựa lọc san thi gì. Chúng tôi chỉ vụ thu thập cho được nhiều câu, không phân biệt thế nào là thành ngữ, lý ngữ, sấm ngữ, phương ngôn, đồng dao, ca dao hay phong dao gì cả. Đối với công việc sưu tập bây giờ, thiết tưởng ta còn phải quí hồ đa trước, rồi nhiên hậu mới có nơi khảo cứu mà qúy hồ tinh được.


Trương Tửu trong phần mở đầu cuốn Kinh Thi Việt Nam hồi giữa Thế kỷ XX, viết:

'Tóm lại, chúng ta cũng có một Kinh Thi qúy giá không kém gì Kinh Thi của người Tàu, Bổn phận chúng ta ngày nay là phải ghi chép nó, san định nó, chú thích nó, như Chu Công đã ghi chép, Khổng Tử đã san định, Chu Hy đã chú thích Kinh Thi của Trung Hoa.


và Trương Tửu tự đánh giá về cuốn Kinh Thi Việt Nam của mình:

'Đây không phải là một kiến thiết mới, đây chỉ là một công trình khôi phục.

'Hoặc nói một cách văn chương hơn, tôi thử cùng bạn đọc tìm đến những cỗi rễ tâm lý và xã hội của nền thơ bình dân Việt Nam. Căn cứ vào đó, chúng ta sẽ san định và chú thích quyển Kinh Thi Việt Nam - kinh của chúng ta, mạch đất chung của tinh thần dân tộc trong dĩ vãng.


**


Nhưng đã cả trăm năm nay, do chiến tranh triền miên, nên cả hai miền Nam và Bắc của đất nước vẫn chỉ có những công trình sưu tầm, hệ thống hóa đơn sơ một số tục ngữ ca dao, chưa có sự gạn lọc loại bỏ những câu do quan lại hủ nho, cán bộ CSVN vong bản làm để tuyên truyền phổ biến học thuyết. Cũng chưa có ai san định & nghiên cứu & chú thích nhằm xếp đặt & lý giải nội dung uẩn áo của một số bài ca dao giá trị tiêu biểu, giúp các nhà giáo dục có cơ sở để đưa vào các chương trình giảng dạy, từ bậc tiểu học đến bậc đại học.

Điều này phần nào có thể hiểu được, vì một khi nghiên cứu thâm sâu, trình bày ra một cách thẳng thắn không thiên vị, ắt sẽ có sự đụng chạm mạnh đến các thế lực tư tưởng, tôn giáo đang ngự trị đất nước, bấy nay vô tình hoặc cố ý coi nhẹ cội nguồn.

Hơn thế nữa, các học giả thành danh vì những tung hô vong bản, trở thành các cổ thụ văn hóa bất khả xâm phạm từng thời kỳ của đất nước bị văn hóa ngoại lai chế ngự, còn tìm nhiều cách đóng thêm đinh gia cố vào tấm bạt văn hóa ngoại lai trùm lên văn hóa cổ truyền; khiến người đi sau muốn nhổ đinh - gỡ bạt gặp nhiều trở lực rất đáng kinh hãi?!


**


Là một thành viên của Nhóm Nghiên Cứu Quốc Văn, tham gia soạn thảo Chương trình Quốc Văn lớp 12 của Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975, chúng tôi được nhóm giao cho phần nghiên cứu khởi đầu chương trình - về nền Văn Hóa Cội Nguồn qua Tục ngữ - Ca dao - Cổ tích.

Tuy nhiệm vụ công bộc đã chấm dứt theo chiến cuộc vào năm 1975, nhưng bản thân chúng tôi vẫn thấy có trọng trách phải tiếp tục công việc nghiên cứu Văn Hóa Cổ Truyền Việt Nam, không vì lý do thời cuộc nhất thời mà sao lãng.

Sau khi hoàn thành cuốn Khởi thảo Kinh Thư Việt Nam, nghiên cứu về nền văn hóa & tư tưởng trong các cổ tích, và ảnh hưởng của nó trong suốt hơn 2.000 năm lịch sử, cấu tạo thành một nền nếp văn hiến sán lạn; nay may mắn đã ngoài tuổi cổ lai hy mà vẫn còn chút sức mọn, nên chúng tôi gắng công bắt tay ngay vào việc Khởi thảo Kinh Thi Việt Nam, bàn tiếp về tục ngữ & ca dao, mong đóng góp thêm một số ý kiến và tư liệu vào việc phục hồi & phát huy Văn Hóa Cổ Truyền Việt Nam.


***


Nếu Kinh Thư - Kinh Xuân Thu có nội dung nặng về tìm hiểu & hướng dẫn các tình huống lịch sử và chính trị, để giới cầm quyền về sau lấy đó làm kinh nghiệm chấn chỉnh hành động, thì Kinh Thi là những minh dẫn về giáo dục đạo đức cho mọi người.

Do vậy các nhà Nho vẫn coi Kinh Thi như một cuốn sách giáo khoa thiết yếu căn bản. Khổng Tử nói:

'Không học Kinh Thi lấy gì mà nói... hưng khởi ý chí là ở Kinh Thi'.


Sách Khổng Tử Gia Ngữ viết:

'Cách dạy người của Khổng Tử trước là dùng Thi - Thư, rồi mới lấy hiếu đễ dẫn đạo người ta, lấy nhân nghiã mà giảng dụ, lấy lễ nhạc mà khiến ta xem xét, sau cùng mới lấy văn lấy đức mà làm cho nên người'.


Như vậy chứng tỏ Kinh Thi mang trọng trách về giáo dục là chính, nên chúng tôi sẽ đặt nặng nội dung giáo dục khi Khởi thảo Kinh Thi Việt Nam; cố gắng làm nổi bật về 'Nghệ thuật Truyền đạt của phương pháp Giáo dục Cổ Truyền Việt Nam' qua tục ngữ & ca dao, với các ưu điểm Thực tế - Dễ dạy - Dễ học - Dễ hiểu và Nhớ lâu.


Đây chỉ là công việc 'khởi thảo' nhằm đưa ra các gợi ý ban đầu - không hề kết luận về bất cứ điều gì, nên chúng tôi chỉ mong giúp mai hậu nếu ai để tâm nghiên cứu, có thêm cơ sở nghiên cứu phát huy, và chỉ nên coi đây như một tài liệu để tham khảo.


Một điều rất đáng ngạc nhiên khi nghiên cứu về Ca dao Việt Nam, là nội dung của ca dao uẩn áo tới mức phải có một trình độ kiến thức cao & đầu tư tâm ý thâm sâu lâu dài mới có thể khai phá.

Nói khác đi, nền văn học bị các người viết sách giáo khoa bấy nay coi là 'bình dân', thì lại 'bác học' cao siêu hơn cả nền văn học từng được bao thế hệ coi là 'bác học'. Cao siêu đến mức độ chính một số các nhà viết sách giáo khoa trước đây, cũng phải thừa nhận chưa đủ sức hiểu giá trị để khai phá, chẳng khác gì người thợ đẽo đá không thể đẽo ngọc, như một số học giả nêu trên phát biểu?!


Do vấn đề quá cao xa, biển học mênh mông mà kiến thức của một người chỉ có hạn, nên chúng tôi hy vọng sẽ nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các bậc cao minh, hầu có thể chỉnh sửa khi tái bản.

Xin trân trọng nhắc lại, cũng như khi Khởi thảo Kinh Thư Việt Nam, chúng tôi chỉ đưa ra các 'nhận định' có tính cách gợi ý, mà không hề 'kết luận', hầu tránh sự khẳng định chủ quan hạn hẹp, làm nghèo nàn đi kho tàng tư duy lớn lao của tiền nhân Việt Nam.


Trân trọng,


Nguyễn Xuân Khoan

Úc Châu Mùa Xuân Kỷ Sửu 2009




Phần thứ I


Nghệ thuật Giáo dục Đời sống Tinh Thần


Chương I

Vũ Trụ Quan Việt Nam


Các tôn giáo thường Bái Thiên - Bái Địa hoặc Bái Nhân một cách thái quá, coi nhẹ vấn đề Quốc Gia & Dân Tộc căn bản của các nước được truyền đạo, nên gây ra sự mâu thuẫn, nhiều khi dẫn tới đối kháng đẫm máu.


Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo đều xác quyết rằng Thượng Đế của mình là thực tại tối thượng. Nhiều khi một số tư tưởng gia của các tôn giáo này còn cho rằng Thượng Đế của họ vĩ đại đến nỗi không lời nói trần gian nào có thể nói về Đấng Tối Cao này, nên mọi sự hoài nghi đều là phạm thượng, phải bị trừng phạt nghiêm khắc một cách vô lý - chẳng khác gì dưới chế độ Cộng sản... dám phát biểu ý kiến không tuân theo tư tưởng Marx & Lénine?!


Đức Phật Thích Ca tuy chỉ nhận mình như ngón tay chỉ đường tới với Thượng Đế, nhưng không hiểu do đâu bấy nay một số cao đồ lại tự thần thánh hóa mình, chia ra nhiều trường phái giảng giải và hành đạo khác nhau, như Đại Thừa (Bắc Tông), Tiểu Thừa (Nam Tông), Thiền Tông, Mật Tông, Tịnh Độ Tông... thậm chí tại Việt Nam sau này còn phong cho một tu sĩ mới 20 tuổi là Đại Đức - chữ để tôn xưng Đức Phật ngày xưa (Theo tài liệu về Phật Giáo của một tăng nhân nơi ngôi chùa rất lớn và uy thế ở Montreal phổ biến trên internet), rồi trên nữa là các chức vị có danh xưng không còn vẻ 'sắc sắc - không không', như Thượng tọa, Hòa thượng, Đại lão Hòa thượng, Thượng thủ Hòa thượng, Tăng thống?!

Việc các nhà tu hành gần đây còn tự nhận mình mang họ 'Thích' của Thích Ca, đã khiến không ít người bị lầm lạc, khi cho mình như thế là đã dứt bỏ cả tôn ti họ hàng, xã hội, quốc gia, dân tộc... lo đạo quên đời, một cách thiếu ý thức và trách nhiệm của người con, người dân; có thể vì quyền lợi và sự tồn tại của Đạo mà không còn nghĩ gì đến sự hưng vong của Quốc gia & Dân tộc - cụ thể như các tổ chức tôn giáo bị coi là 'quốc doanh'?!


Khổng Giáo thì coi nhà vua là Thiên Tử (con Trời), nên thay Trời trị người với mọi quyền 'Trời ban cho', trở thành những 'ông Trời Con' làm ác nhiều hơn làm thiện, nhưng lại coi ai trái ý vua là trái ý Trời - nào khác gì Cộng sản luôn mượn hai chữ 'nhân dân' để tác quái.

Còn Cộng sản Việt Nam thì nhập nhằng giữa Đảng với Tổ Quốc, rồi nhân danh Tổ Quốc để tung ra các điều luật chống Đảng là phản quốc, hầu có thể nặng tay trừng phạt dữ tợn hơn cả các lối trừng trị của một số tôn giáo khi bị thoái hóa một thời trước đây, cũng như của các chế độ phong kiến, quân chủ, thực dân, phát xít?!


Lão Giáo coi Trời như một đấng có quyền năng sinh hóa tối thượng, nên chủ trương 'vô vi', khuyên không được làm điều gì trái mệnh trời - như kiểu Khổng Giáo nhập thế hành đạo, bị Lão Giáo cho là phạm thượng.


Tóm lại, các tôn giáo và không ít thể chế chính trị xưa nay bằng cách này hay cách khác, đều chủ trương tôn thờ một Đấng Tối Thượng, dù vô hình hay hữu hình đều hiện diện khắp nơi, là bậc toàn năng, toàn trí, toàn thiện, nên ai nấy phải cúi đầu tuân phục vô điều kiện - không còn chú ý gì đến vấn đề Quốc Gia mới chính là mẫu số chung chính đáng & thiết yếu cho sự hội tụ đoàn kết thống nhất, giúp phát triển thăng hoa tốt đẹp nhất, đem lại hạnh phúc cho mỗi Dân Tộc?


Thực ra các Đấng Tối Cao của tôn giáo nào cũng là các bậc Thánh Hiền, muốn tìm cách giúp đời sống mọi người hạnh phúc, thánh thiện, vượt qua khổ ải.

Nhưng không ít các cao đồ vì cần phát huy bằng mọi giá để có thể cạnh tranh giành nhiều quyền lợi riêng tư, đã biến tôn giáo thành những lợi khí về chính trị, xã hội, văn hóa, tài chính, kinh tế... thậm chí không ngại ngần khủng bố sát phạt đẫm máu.

Thiên Chúa Giáo của hệ phái Vatican trước đây từng làm nhiều điều sai trái, đã khiến Giáo Hoàng John Paul II phải đứng ra tạ lỗi với nhân loại, về một quá khứ 200 năm phát triển theo đường lối bạo hành, đồng hành cùng bọn thực dân.

Giáo sĩ lãnh đạo Hồi Giáo ở Iran là Ali Khamenei, ngày nay về phe với tên tổng thống Ahmanidejad gian lận ăn cắp phiếu cử tri, đàn áp đẫm máu những người dân chân chính, trong sạch, can đảm sáng suốt đấu tranh cho tự do dân chủ và công bằng.


Các trường hợp cổ kim trên cho thấy một khi tôn giáo bị một số lãnh đạo kém ý thức, quá nhiều tham vọng, xa rời chính kiến hoặc tự tôn sùng quá đáng, đã làm cho suy vi; một thời đã trở thành tàn độc như thế nào, ác hại với đồng loại ra sao, đâu có khác gì các thế lực thế tục độc tài chuyên chính vô luân?!


Vì đã có mấy ai biết tuân thủ lời của Thánh Thomas d'Aquin, xem lòng yêu nước như sự sùng mộ - pietas - đối với quê hương, không thể tách rời với bổn phận thờ kínhThượng Đế, và trách vụ hiếu thảo với Cha Mẹ?!

Hoặc như lời dạy của Đức Giáo hoàng Léon XIII: 'Lòng yêu mến Giáo hội và lòng yêu Nước phát xuất từ một nguyên lý vĩnh cửu. Cả hai đều do Thượng Đế là tác giả và nguyên ủy'.


Trong khi đó sự bản địa hóa các tôn giáo của người Việt, từ lâu đã giúp các tu sĩ chăm lo cả việc Đạo và việc Đời, thực hiện tốt trách nhiệm công dân song hành với việc tu đạo, đã khiến các tôn giáo khi du nhập Việt Nam thăng hoa đến các cảnh giới cao đẹp, như phần trình bày tiếp theo sau phần viết này.


Qua các phần nêu trên, chúng ta thấy các tôn giáo trên thế giới xưa nay, đa số đã bị một số vị cao đồ sân si xây dựng hình thành theo mô hình một Tam Giác Cân Dựng Đứng cao ngất, mà đấng giáo chủ chót vót ngự trị trên đỉnh cao, xa rời nhân thế; biến Bái Thiên thành Bái Nhân, lắm khi còn biến người lãnh đạo tôn giáo chưa xứng đáng thành Giáo Chủ - như kiểu một số Giáo Hoàng, Tăng Thống... làm cho các tín đồ cảm thấy xa cách với Chủ Thể là Đấng Tối Cao, nhiều khi trở thành thấp bé hèn mọn, quay ra khúm núm qùy lạy van vái, hôn tay ôm chân cả người sống đáng tuổi con cháu mình, mất cả nhân phẩm lẫn tư cách - thay vì chỉ cần nghiêm trang bày tỏ sự kính mến các Đấng Tối Cao Siêu Hình?!


Trong khi đó ngay từ xa xưa, Người Việt Nam đã quan niệm một Vũ Trụ quan giữa Thiên - Địa - Nhân theo mô hình một Tam Giác Đều Nằm Ngang, thể hiện không chỉ sự bình đẳng, mà còn đề cao Nhân Hùng - nâng cao địa vị của Nhân để mỗi người phải lo hoàn thiện bản thân sao cho xứng với vị trí bình hòa danh dự trong thế Tam Tài 'Thiên - Địa - Nhân' của mình, qua việc tôn thờ Địa Linh & Nhân Kiệt phổ biến nơi các đình làng.

Đây chính là quan niệm Nhân + Trí = Hùng, từ lòng 'Nhân' qua nghiã 'đồng bào' của Mẹ Tiên Âu Cơ & kết duyên với 'Trí' qua việc 'tri hành hợp nhất' cùng theo con lo việc nước của Cha Rồng Lạc Long Quân & sinh ra các Vua Hùng, xây dựng nhân sinh quan 'Đồng Bào'.


Sự Bản Địa Hóa Tôn Giáo tại Việt Nam


Xuất phát từ ý nghiã thiêng liêng và chứa chan tình người qua hai chữ 'Đồng Bào' (mang ý nghiã 'chung & cùng' nhiều bề, khởi từ việc chung bào thai Mẹ, cùng dòng máu với nhau) do Mẹ Âu Cơ nêu lên từ thuở lập quốc gần 5.000 năm trước, Người Việt đã khai triển thành tình Đồng Hương, bao dung hầu có thể 'hòa nhập khi phải cư trú nơi hải ngoại cần hòa tan' với các nền văn hóa & tư tưởng khác; rộng lớn hơn hẳn các quan niệm khác như Đồng Chí, Đồng Môn, Đồng Song... khi tạo được sự 'đồng tình' mà không phân biệt tư tưởng, sắc tộc, tôn giáo, quốc tịch - là các vấn đề kỳ thị nguy hại, từng gây ra nhiều vấn nạn cho các nước trên thế giới xưa nay, chỉ vì các ý thức hạn hẹp sai lầm lâu đời không được chỉnh sửa, do quá ư tự cao, tự đại, tự mãn:


'Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

'Người chung một nước phải thương nhau cùng.


'Bầu ơi thương lấy Bí cùng,

'Tuy rằng khác giống, nhưng chung một dàn.


Vì coi mọi người là 'đồng bào' - theo tình ý cùng từ bào thai của Mẹ Âu Cơ sinh ra, cần chung sống hài hòa với nhau, nên Người Việt xưa đã tùy theo tuổi tác mà phân trên dưới, xưng hô với nhau như tình người cùng trong một dòng họ: cụ, ông, bà, bác, chú, cô, thím, dì, dượng, anh, chị, em, cháu, chắt... rồi nhận vai vế của mình cũng tùy theo tuổi tác như cùng trong một gia đình, chung dòng họ.

Ở Miền Bắc, nhiều làng vẫn còn theo tục lệ xưa trọng Nhân Tước hơn Thiên Tước, xếp thứ bậc theo tuổi tác cao thấp, đặt các vị cao niên ngồi trên các người địa vị lớn, đỗ đạt cao.

Ở Miền Nam chỉ nhờ một thời cách biệt Miền Bắc khoảng 200 năm do cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn... không chỉ ít bị ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc hơn, mà còn duy trì thêm lối xưng hô tùy theo thứ bậc sinh ra trong mỗi gia đình mà kêu là Bác Ba, Cô Tư, Anh Chị Năm... nên càng thêm thân mật, dễ hòa đồng hơn nữa.

Việc xưng hô này còn được Phật Giáo tại Việt Nam trước đây áp dụng trong hệ thống cấp bậc một cách thân tình, như Sư Cụ, Sư Ông, Sư Bác, Sư Bà, Sư Cô, Chú Tiểu... giúp Phật Giáo một thời đã có thể hòa đồng vào nếp sống dân tộc, đến mức độ ai không theo tôn giáo nào, tự coi như mình theo Phật Giáo?

Hồ Chí Minh nhờ biết áp dụng tình tự 'đồng bào', xưng bác rồi bề tôi xưng chú, dưới nữa xưng anh chị, em, cháu... đặt ra các bậc 'mẹ nuôi', 'chị nuôi' mà đã che dấu được các manh tâm, chỉ khi đạt thành quả mới lộ dã tâm giết các mẹ nuôi, chị nuôi, anh nuôi... rất táng tận lương tâm!

Rồi sự cách biệt Nam - Bắc 20 năm (1954 - 1975) cũng tạo được những khác biệt ghê gớm, khi Miền Nam vẫn giữ được truyền thống lâu đời về ngôn ngữ, tư tưởng, tình cảm, tâm lý... trong khi Miền Bắc bị Cộng sản đồng hóa nhiều bề, dần đưa đến chỗ bị Trung Cộng ràng buộc trói tay, rất khó thoát vòng nô lệ, nếu Người Việt trong và ngoài nước không sớm thức tỉnh, đồng lòng lo cứu quốc & phục quốc.

Cung cách xưng hô trên đã tôn xưng các vị tu hành rất cao, đứng trên cả cha mẹ sinh thành một cách thân thương kín đáo, khi không có những vai vế của bậc thấp dưới cha mẹ như chú, cậu, anh, chị, em... Ngay những người tu hành nhỏ tuổi cũng được tôn xưng là Chú Tiểu...

Khi đối thoại trực tiếp thì 'Bạch Thày', coi như bậc thầy...

Tưởng cũng nên biết với Đạo Mẫu của người Việt, thì các nhân vật chính yếu được coi thân tình và đúng mức hơn nữa, khi có vai vế dưới Cha Mẹ, chỉ được gọi là các 'Cô - Cậu', qua thành ngữ 'Đồng Cô - Bóng Cậu'.


Sự bản địa hóa tôn giáo tại Việt Nam, đã giúp các vị tu hành có được ý thức 'Tôn giáo và Quốc Gia & Dân Tộc & Gia Đình luôn đồng hành, có bổn phận phải hoàn thành trách nhiệm song song trong cả cuộc Sống Đạo và cuộc Sống Đời'; không có việc coi tu hành là cần phải xa lià khỏi Gia Đình & Dân Tộc & Quốc Gia, mà vong ân - bội nghiã.

Do vậy mà từ thời Đinh Lê Lý Trần... các vị cao tăng đã tham gia việc nước khi đất nước cần tới, chứ không vì tu đạo mà ích kỷ không ngó ngàng gì tới Quốc Gia & Dân Tộc, như các tu sĩ 'quốc doanh' trong nước thời XHCN.

Đời Trần, vua Trần Nhân Tôn tuy làm vua mà vẫn tu hành, để rồi khi quân Mông Cổ xâm lăng, đã 3 lần cầm quân đánh tan giặc, sau đó mới tiếp tục cuộc sống tu đạo ở núi Yên Tử - với ẩn ý tuy tu hành mà vẫn có thể theo dõi tình hình phiá Bắc, hầu đề phòng quân Mông Cổ quay trở lại.


Người bản địa hóa tôn giáo mạnh nhất trong lịch sử Tôn Giáo Việt Nam, là Đức Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ - vị Tổ sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo, khi Ngài nêu cao Tứ Ân:

1/ Ân Tổ Tiên, Cha Mẹ

2/ Ân Đất Nước

3/ Ân Tam Bảo

4/ Ân Đồng bào và Nhân Loại - với người xuất gia tu hành là Ân Đàn Na Thí Chủ.


Khi đất nước rơi vào tay Cộng sản tàn ác, rất nhiều các vị tu sĩ của các tôn giáo đã biểu lộ tình cảm yêu nước & thương nòi, song song với việc vệ đạo, đứng ra đấu tranh đòi tự do, nhân quyền:


**Phật Giáo có các Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ lãnh đạo các vị Tăng Ni, Phật Tử đấu tranh đòi tự do dân chủ, nhân quyền, rồi mới đến tự do tôn giáo.

Ngày 16-5-2009, Hòa thượng Quảng Độ khi gặp đại diện Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ đến thăm ngài nơi ngài đang bị Việt Cộng quản thúc ở Thanh Minh thiền viện, Sài Gòn, nhiều năm qua, ngài đã nói:


-'Tôi có thưa với Ủy ban rằng việc tôi đề cập đến vấn đề bauxite ở Tây Nguyên, lý do rất đơn giản vì Phật Giáo Việt Nam có thể khác với Phật Giáo các nước khác ở Á Châu, đặc biệt là cái vận mệnh của Phật Giáo Việt Nam nói chung, và của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nói riêng, từ bao nhiêu năm nay nó vẫn gắn liền với sự thịnh suy của dân tộc Việt Nam, mà từ mấy ngàn năm nay nó vẫn như thế'.


**Thiên Chúa Giáo có các vị Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ... Đặc biệt ngài Nguyễn Hữu Lễ đã có câu nói rất đáng ghi vào sử sách: 'Trước khi là Linh mục, tôi là một người Việt Nam'.


**Các tôn giáo khác như Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành cũng có rất nhiều các vị tham gia đấu tranh cho Quốc Gia & Dân tộc, mặc dù bị bạo quyền Cộng sản Việt Nam đàn áp, đánh đập, tù đầy không xét xử, rất man rợ!.


Lịch sử Việt Nam sẽ mãi mãi ghi công các vị tu sĩ biết quan tâm đến cả việc Đạo và việc Đời, nên sự bản địa hóa các tôn giáo đã giúp thăng hoa nhân cách của các vị tu sĩ lên hàng các nhà ái quốc anh hùng, được mọi người kính phục - hơn hẳn những tu sĩ 'quốc doanh' chỉ lo 'tu hành' rất bất nhẫn và ích kỷ (?!), không còn nghĩ gì đến sự khổ đau của Gia Đình & Cộng Đồng & Xã Hội & Dân tộc đã cưu mang nuôi nấng họ nên người.


Nhận Định


Một điều rất đáng buồn, là không chỉ trong Tôn giáo, mà trong Chính giới và Học giới, hầu hết đã vì mê say tôn giáo, đảng phái, học thuyết mình yêu thích... mà bị vong thân - lo việc nước mà không hề nghĩ đến việc phát huy truyền thống dân tộc; khiến đưa đẩy Quốc Gia & Dân Tộc dần dần đến chỗ bị lệ thuộc nước ngoài, từ chính trị, tôn giáo, kinh tế đến văn hóa ngay cả khi giành được độc lập, tự do!

Đây chính là thảm cảnh 'lo mà không biết nghĩ' vậy?!

Cuối Thế kỷ 20, một số vị có trình độ học vấn và địa vị cao của các tôn giáo đã ngả nghiêng theo bạo quyền Cộng sản Việt Nam, gia nhập các tổ chức tôn giáo quốc doanh, với ý nghĩ thiển cận khi cho rằng cần duy trì phát huy tôn giáo là chính, mà coi nhẹ sự khổ đau của dân tộc. Những nhà tu hành này dù cao đạo đến mấy, cũng vẫn trở thành có tội với Quốc Gia & Dân Tộc & Xã Hội & Gia Đình. Chức càng cao thì tội càng nhiều?

Những người này đã bị kiến thức hạn hẹp như con ngựa kéo xe bị che mắt, chỉ thấy được một chiều, làm cho mê muội khi không biết rằng Quốc Gia & Dân Tộc mới là Mẫu Số Chung mà mọi người có trách nhiệm phải bảo vệ đề cao; còn Tôn giáo, Đảng phái, Học thuyết chỉ là những Tử Số riêng biệt phụ thuộc, nhằm phục vụ Mẫu số chung mà thôi.

Cộng sản Việt Nam gian trá đã đánh đồng Đảng với Tổ Quốc, để rồi đàn áp, tàn sát những ai chống lại Đảng của chúng, bằng những đạo luật đồng hóa Đảng với Tổ Quốc - coi chống Đảng là phản Quốc.

Kinh khủng nhất khi những người Cộng sản Việt Nam vì lợi quyền tham ô, tha hồ tác quái bán nước hại dân, có chủ trương 'Thà mất Nước còn hơn mất Đảng', Công an Nhân dân thì nêu câu 'Còn Đảng mới Còn Mình' cực kỳ phản quốc!

Hậu quả ác hại của lối biện luận ngu xuẩn này gây ra, là đã khiến họ không ngần ngại dâng đất nước cho quan thầy Trung Cộng, đàn áp thô bạo bất cứ ai làm trái ý đồ xấu xa của họ, bán rẻ dân tộc cho ngoại bang qua các vụ xuất khẩu lao động, hạ giá nhân công trong nước khi làm việc với các doanh nghiệp nước ngoài để thu hút đầu tư, cho phép phụ nữ tha hồ đi lấy những người chồng nước ngoài già nua tật bệnh... để ăn hối lộ, thu ngoại tệ, mà không hề đề ra các biện pháp & giới hạn giúp đỡ chọn lọc; trong lúc ngay như Campuchia còn biết hạn chế tuổi tối đa 50, lợi tức hàng tháng tối thiểu 2.000 USD... của các nam nhân muốn cưới vợ người Campuchia.

Một khi nước mất, nhà tan, tôn giáo và các chính đảng cũng trầm luân theo, thất phu cũng hữu trách... như trường hợp Việt Nam Cộng Hòa vừa qua, không biết đến bao giờ mới có thể khôi phục?!


Quan niệm Việt về Trời - Đất - Thánh - Thần


Do từ lâu Người Việt đã có ý thức rất cao về Nhân Vị - Nhân Bản - Nhân Quyền, thăng hoa lên thành 'Nhân Hùng', ngay khi lập quốc qua 18 đời vua đầu tiên của Việt Nam, nên đã có nghệ thuật giáo dục & phát triển hoàn thiện Nhân Cách riêng biệt, hầu có thể Tự tin & Tự Trọng & Tự Cường từ tư tưởng đến hành động, xứng đáng với vai vế của mình trong thế Tam Tài Bình Đẳng giữa Thiên - Địa - Nhân.

Với Trời, tuy tôn trọng, nhưng không vì thế mà không phê phán những điều chưa đúng, bị cho rằng do Trời gây ra.


-Khi thấy Trời đúng thì khen ngợi là sáng suốt:

'Trời có mắt.


-Khi thấy Trời chưa đúng thì chê trách là đồ đui mù:

'Trời không có mắt.


-Nhận định Trời nhiều khi cũng như người:

'Trời làm một trận lăng nhăng,

'Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông.


-Do biết tự đối phó thích ứng, nên có khi coi nhẹ cả Trời:


'Trời mưa thì mặc Trời mưa,

'Chồng tôi đi bừa đã có áo tơi,

'Chồng tôi đi chơi đã có nón đội,

'Chồng tôi đi hội đã có dù che.


Với các vị Thánh Thần, cũng có những suy nghĩ tương tự:


-'Trời cao, bể rộng bao la,

'Việc gì mà chẳng do ta mọi bề?

'Trong việc nhà, ngoài thì việc nước

'Giữ làm sao sau trước vẹn tuyền,

'Lọ là cầu Phật, cầu Tiên?


Một câu chuyện khá thú vị giữa Thần và Người, trở thành sự tích được dân gian Việt truyền tụng như sau:


'Một cậu học trò nhà ở gần một nơi thờ Thần Thành Hoàng, một bữa cậu đang ngồi học thì thấy một người hàng xóm lấy trộm quần áo đang phơi của nhà bên cạnh. Hôm sau hai bên hàng xóm của cậu học trò đưa nhau ra trước Thần Thành Hoàng thề sống thề chết, nhưng kết quả mấy ngày sau chẳng ai bị hề hấn gì.

'Cậu học trò tự nhủ thầm:

'-Thần gì mà không có mắt, không thấy được cả việc trộm cắp ngay trước cửa đền thờ!

'Tới đêm, cậu học trò nằm ngủ mơ thấy vị Thần Thành Hoàng tới hỏi rằng:

'-Này cậu học trò, sau này đỗ đạt làm quan án sát, liệu cậu có thể chỉ vì vài cái quần cái áo, mà giết một mạng người hay không?


Do vậy mà lối thờ cúng Thánh Thần của Người Việt cổ truyền tuy thể hiện sự tôn kính 'Địa linh & Nhân kiệt', nhưng không hề mang sắc thái quá sùng bái đến độ mất cả tư duy và nhân cách, rồi bị lệ thuộc theo kiểu yếu hèn.

Cụ thể từ xa xưa, các hình vẽ trên Trống Đồng cho thấy Người Việt Cổ sinh hoạt vui tươi dưới ánh sáng Mặt Trời, không hề có hình ảnh qùy lậy. Đạo Nội thờ Thánh Mẫu của Người Việt có nghi lễ lên đồng múa hát trước ban Thờ Mẫu...


Người Việt châm biếm cử chỉ qùy lậy, như một hành vi tình dục:


'Xin qùy hai gối, chống hai tay.


Và lễ vật thờ cúng cũng rất đơn giản:


'Trời Đất hương hoa,

'Người ta cơm rượu.


Nhận Định


Trời - Đất - Thánh - Thần được Người Việt từ xa xưa nhân cách hóa một cách thân thương gần gũi, coi như là thế lực hỗ tương có trách nhiệm giúp đỡ phát huy cuộc sống nhân sinh theo chiều hướng thăng hoa - chứ không coi đó là những thế lực tối cao có mọi quyền hành sinh sát; nên đòi hỏi phải sáng suốt mới được kính trọng, thờ phượng.

Vì nếu Trời - Đất - Thánh - Thần sáng suốt phân minh, thì tại sao lại có thể để cho những kẻ gian ác ghê gớm nhất tồn tại, tác yêu tác quái, hưởng mọi sự giàu sang phú qúy, nhởn nhơ trước mắt mọi người?

Do vậy qua một số cổ tích, sự tích, ca dao, tục ngữ, người Việt có nhân sinh quan đòi hỏi 'Quả Báo Nhỡn Tiền', tức là sự ác giả ác báo phải xảy ra ngay trong kiếp sống này mới đúng đắn, coi chuyện kiếp sau bị báo oán như một số tôn giáo đưa ra để giải thích... là không thích hợp với đạo lý của nhân gian, vì không hữu hiệu trong việc giáo dục nhân luân:


-'Cây xanh thì lá cũng xanh,

'Cha mẹ hiền lành để đức cho con.


-'Trời quả báo ăn cháo gẫy răng,

'Ăn cơm gẫy đũa, xỉa răng gẫy chày.


Phân biệt giữa Thánh Thần và Tu sĩ


Người Việt có ý thức cao về việc thờ phượng, nên phân biệt khoảng rõ cách giữa Thánh Thần và Tu sĩ, sớm nhận ra không ít các tu sĩ chưa đủ đạo hạnh, làm mất uy tín của Thánh Thần. Do vậy mà Người Việt đã loại Tu sĩ ra khỏi tín ngưỡng của mình, hầu có thể trực tiếp giao tiếp với Thánh Thần.

Cụ thể các Đình Thờ Thần Thành Hoàng, Đền Thờ Mẫu... chỉ có một Ông Từ coi sóc quét dọn nơi thờ phượng, hưởng lương do dân làng đóng góp, chứ không hề có quyền hành lễ, giảng giải đạo lý.

Và ca dao nếu có những bài phê phán tôn giáo, là chỉ phê phán tư cách riêng tư của tu sĩ, chứ không hề động chạm đến các vị Thánh Thần bên trên.

Nói khác đi, Người Việt không hề đồng hóa tu sĩ với thánh thần, cũng không thần thánh hóa các tu sĩ, dù ở bất cứ địa vị nào, nên không bị lợi dụng đưa đẩy đến chỗ mê muội vì tôn giáo:


-'Tụng kinh dạ những rì rầm,

'Gái tơ, vãi trẻ, mắt thầm bôn ba.


-'Sư đương tụng niệm Nam Mô,

'Thấy cô sách giỏ mò cua bên chùa.

'Lòng sư luống những thẫn thờ,

'Bỏ cả kinh kệ, tìm cô hỏi chào.

'Ai ngờ cô đi đằng nào,

'Tay cầm tràng hạt ra vào băn khoăn.


-'Ba cô đội gạo lên chùa,

'Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư.

'Sư về, sư ốm tương tư.

'Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu.

'Ai làm cho dạ sư sầu?

'Cho ruột sư héo như bầu đứt dây.


-'Chị là con gái nhà giàu,

'Ăn mặc tốt đẹp vào chầu Tòa Sen.

'Em là còn gái nhà hèn,

'Ăn mặc rách rưới, mon men ngoài hè.


-'Chập chập thôi lại cheng cheng,

'Con gà trống lớn để riêng cho thầy.

'Đơm xôi, thì đơm cho đầy,

'Đơm mà vơi điã thì thầy không ưa.


Cho nên đã nảy sinh quan điểm rất cao về tu tập:


-'Tu đâu cho bằng tu nhà?

'Thờ Cha - Kính Mẹ mới là chân tu.


-'Thứ nhất là tu tại gia,

'Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.


Nhận Định


Tín ngưỡng nguyên thủy của Người Việt mang tính Văn hóa hơn là tính Tôn giáo, tạo được tinh thần 'Anh Hùng: Tự Tin & Tự trọng & Tự Cường và có Trách Nhiệm với Gia Đình & Xã Hội & Dân Tộc & Quốc Gia' - phát triển Nhân Cách xứng đáng với địa vị bình đẳng trong thế Tam Tài 'Thiên - Địa - Nhân'.

Tín ngưỡng thờ 'Địa Linh - Nhân Kiệt' của Người Việt thể hiện sự Bái Thiên - Bái Địa - Bái Nhân mang tính văn hóa đồng đẳng, giúp thăng hoa Nhân Vị, đề cao Nhân bản, phát huy Nhân Quyền, tôn kính Anh Hùng để bắt chước làm theo chứ không sùng bái... nên không khiến con người trở thành hèn yếu, mất tư cách, phải qụy lụy trước các thế lực siêu hình cũng như hữu hình, dù là Bái Thiên - Bái Địa - Bái Nhân.

Điều này đã giúp Người Việt bấy nay duy trì được tinh thần truyền thống tự chủ cao đẹp của dân tộc, dù bị nhiều tôn giáo ngoại lai xâm nhập, tìm cách khống chế, tha hóa...

Do vậy nhà văn hóa Toan Ánh đã sai lầm tai hại, khi cho rằng Việt Nam không có Tôn Giáo riêng biệt, với lý do Đạo Nội không có Tu sĩ và Kinh điển trong việc thờ phượng. Ông Toan Ánh chưa thấy được rằng Người Việt từ xưa đã sớm nhận ra không ít Kinh điển và Tu sĩ không còn phản ảnh được sự tinh hoa chân chính nguyên thủy của tôn giáo, nên mới loại bỏ Tu sĩ và Kinh điển, trực tiếp giao tiếp với thế giới siêu hình qua các bài khấn, bài sớ... thay đổi linh động tùy theo từng không gian - thời gian - nhu cầu - đối tượng?!


Quan niệm về Âm Dương


Sách Lĩnh Nam Trích Quái mở đầu bằng 'Truyện Hồng Bàng Thị', về sự tích Âu Cơ và Lạc Long Quân, có đoạn viết:


'Long Quân nói:

'-Ta là nòi Rồng, đứng đầu thủy tộc. Nàng là giống Tiên, sống ở trên đất, tuy khí Âm Dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng Thủy - Hỏa tương khắc, dòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia ly. Ta đem 50 con về Thủy phủ chia trị các xứ, 50 con theo Nàng về trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống biển, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên nhau'.


Lĩnh Nam Trích Quái viết bằng chữ Hán, theo Lê Quí Đôn trong 'Kiến Văn Tiểu Lục' thì do Trần Thế Pháp viết, sau được Vũ Quỳnh đậu tiến sĩ năm 1478 - niên hiệu Hồng Đức thứ 9 viết bài Tự, và Kiều Phú đậu tiến sĩ năm 1475 - niên hiệu Hồng Đức thứ 6, chỉnh sửa viết bài Hậu Tự.


Từ các chi tiết kể trên, chúng ta thấy:

1/ Truyện lúc đầu do các Nho sĩ viết bằng Hán tự, đã chịu ảnh hưởng Hán học, mà đưa vào lý do Âm Dương kết hợp nhưng Thủy Hỏa tương khắc, khiến phải chia tay. Điều này là do quan niệm Dịch học của Lão Tử và Kinh Dịch của Khổng Tử, được tác giả đặt vào miệng Lạc Long Quân, trong khi Lạc Long Quân sinh trước Khổng Lão gần 2.000 năm, lúc đó Khổng Lão chưa sinh ra, thì làm sao Lạc Long Quân có thể lấy lý lẽ của Dịch Học ra nói?


2/ Lạc Long Quân bảo với Âu Cơ là cần chia nhau đem con đi dựng nước, khi nào 'hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên nhau', thì không hề có chuyện lìa bỏ nhau, như nhiều người hiểu sai sau này; mà chỉ vì Lạc Long Quân là người hiểu lẽ 'lời nói cần đi đôi với việc làm' - sau này các Nho gia biện luận thành 'Tri Hành hợp nhất', nên dấn thân cùng các con xuống vùng biển chung sống để cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng lo toan việc dựng nước; hy sinh hạnh phúc bản thân.

Đây chính là việc thực hiện nhân sinh quan 'đồng', theo chiều hướng hành động 'chung + cùng'.


Như thế quan niệm Âm Dương, Thủy Hỏa tương khắc là của Trung Hoa, do các Nho sĩ quá hâm mộ Hán học mà gán bậy vào việc chia tay cao cả của Lạc Long Quân - Âu Cơ, làm mất đi sự cao đẹp của lý do vì việc nước - hy sinh việc nhà, phải tạm chia tay đi lo đại sự.

Vì từ xưa, người phụ nữ Việt dù chưa biết đạo Tam Tòng là gì, vẫn vì tình nghiã một lòng giúp chồng nuôi con, để rồi được chồng con tôn thờ đền đáp:


'Công Cha như núi Thái Sơn,

'Nghiã Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

'Một lòng thờ Mẹ, kính Cha,

'Cho tròn chữ Hiếu mơi là đạo con.


Muốn được chồng con biết ơn sâu vì nghiã nặng, người phụ nữ Việt khác với người phụ nữ Trung Hoa và các nước trên thế giới ở điểm 'đảm đang', khi lấy chồng là nhận trách nhiệm phát huy nền tảng gia đình, đòi hỏi sự can đảm và sáng suốt, không tuân theo chồng con một cách ngu dại?

Phụ nữ Việt luôn biết cách từ nhẹ nhàng đến quyết liệt, khuyên can & hỗ trợ chồng con thăng tiến.

Nếu ở Trung Hoa, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, thì ở Việt Nam, người phụ nữ nơi thôn quê khi chưa bị ảnh hưởng Nho Giáo, đã tìm cách chọn lựa chồng qua các công việc đồng áng:

'Lấy chồng cho đáng tấm chồng,

'Bõ công trang điểm má hồng, môi son'.

Một khi đã chọn lựa được người chồng theo ý muốn, lúc đó họ sẽ hết lòng vì chồng con, đến mức khó có thể tưởng tượng nổi. Cụ thể như khi chồng hư hỏng, họ vẫn bấm bụng chuyển từ thương chồng qua thương con, để có thể tiếp tục hy sinh.


***


Quan niệm 'Âm - Dương' của Trung Quốc bắt nguồn và phát triển theo Thái Cực sinh Lưỡng Nghi - Tứ Tượng - Bát Quái, thành hai phần tương phản nhau.

Quan niệm 'Âm & Dương' của Việt Nam bắt nguồn và phát triển từ Hỗn Mang sinh Âm & Dương, phát triển thành Tam Tài, Ngũ Hành, thành các phần tương sinh với nhau.

Âm & Dương theo quan niệm của người Việt xa xưa là 2 phái tính tuy khác nhau, nhưng luôn kết hợp để cùng biến hóa sinh thành.

Như Mặt Trăng và Mặt Trời ngày đêm hiện diện, đem ánh sáng cho muôn loài nảy nở, đơm hoa kết trái - Như Nam và Nữ chung sống, sinh con đẻ cái, phát triển giống nòi, duy trì mãi mãi thế Tam tài giữa Thiên - Địa - Nhân.


Cho nên sự kết hợp Âm & Dương hòa, Thủy & Hỏa tương giao, được người bình dân mô tả đầy hoan lạc, qua câu đố về Cái Điếu hút thuốc lào:


'Lưng tròn vành vạnh, đít bảnh bao,

'Mân mân, mó mó, đút ngay vào.

'Thủy & Hỏa tương giao, sôi sùng sục,

'Âm & Dương nhị khí sướng làm sao.


Từ Quan điểm Âm + Dương = Hòa khiến Thủy Hỏa Tương Giao, không hề tương đố, như Nam + Nữ = sinh con, thể hiện trong Dương Có Âm, trong Âm có Dương, trong Nam có Nữ, trong Nữ có Nam, thăng hoa thành quan niệm lạc quan 'Trong Họa có Phúc' - 'Trong Phúc có họa', để ai nấy dù gặp lúc không may, vẫn lạc quan tin tưởng như Nguyễn Công Trứ tới 40 tuổi còn hàn vi, làm thơ:


'Số khá, Bĩ rồi lại Thái,

'Cơ thường Đông hết, hẳn sang Xuân.


Còn Tục ngữ, Ca dao Việt luôn nhắc nhở mọi người tin vào tương lai:


-'Chẳng ai giầu ba họ,

'Chẳng ai khó ba đời.


-'Chim sa, cá nhảy chớ mừng,

'Nhện sa, xà đón, xin đừng có lo.


Nhận Định


Bấy nay, sách vở do giới học thức Việt Nam (chưa thành được Trí Thức, vì cái Học chưa đánh thức được cái Trí - khi chỉ nhai lại những gì đã học), dựa theo các giáo điều Tam Giáo biên soạn, nên hầu như mắc phải lề thói 'tầm chương - trích cú' theo Trung Quốc, cứ 'chuyện cũ sao y - bổn cũ soạn lại', không hề có tinh thần hoài nghi, lối nghĩ theo luận lý học của Triết học Tây phương bao gồm Tiền đề - Phản đề - Hợp đề, nên mới khiến hàng ngàn năm qua giới học thức bị vong thân, đưa đẩy truyền thống Việt ngày càng mai một, tư tưởng lún sâu dần dần vào sự bị tha hóa, nô lệ hết văn hóa Đông phương đến văn hóa Tây phương, rồi Cộng sản... bị ảnh hưởng tới mức coi đó là những khuôn vàng thước ngọc, vạn thế sư biểu, kinh điển phải noi theo, không có được các phản biện cần thiết để phát huy theo chiều hướng thăng hoa tốt đẹp.

Chính sự nô lệ văn chương tư tưởng do việc học từ nhà trường, rồi đem thi hành ngoài đời để kiếm bổng lộc vinh thân, đã khiến cho giới học thức Việt Nam chẳng thể trở thành các nhà trí thức biết xét suy sâu xa trước sau, mà không còn ngó ngàng gì đến nền văn hóa quốc hồn, quốc túy rất thâm sâu của Việt Nam, hiện diện ngay từ khi lập quốc.

Thực tế cho thấy, nếu còn ở trong nước mà khơi gợi về cội nguồn, vạch rõ vấn đề tha hóa mất gốc của các tôn giáo, đảng phái, sách giao khoa... ắt sẽ bị các thế lực văn hóa tư tưởng ngoại lai đang thống trị đàn áp ngay. Cụ thể như ngày nay dưới chế độ Cộng sản; và vào cuối thập niên 1960 dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi phải hủy cả 1 số báo Phát triển Văn hóa đã in, chỉ vì dám viết là Bụt chưa đản sinh thì làm sao có thể báo mộng dạy Lang Liêu làm bánh chưng?! Và Bụt nào lại dạy giết heo làm nhân bánh?! Lý do ông Mai Thọ Truyền lúc đó làm Quốc vụ khanh Văn Hóa, ra lệnh phủ Quốc vụ khanh trợ cấp tiền làm báo cho tờ Phát triển Văn hóa và một số hoạt động văn hóa khác, nhưng bắt phải in ở nhà in của Phật Giáo là nhà in của Đại học Vạn Hạnh gần chợ Trương Minh Giảng, để rồi một tín đồ sửa bản in đọc thấy, đã trình lên các cấp trên tuy có học thức cao, vẫn u mê cấm cản một cách vô ý thức.


Nhận Định Chung về Vũ Trụ Quan Việt Nam


Vì là dòng giõi Tiên + Rồng, sinh ra nòi giống Hùng Vương, nên Vũ Trụ Quan của Người Việt từ xa xưa luôn quan niệm phải tự tin & tự trọng & tự cường, cố gắng phát triển tài đức thành các bậc anh hùng & liệt nữ giúp Quốc Gia & Dân Tộc, hầu có thể được dân chúng qúy trọng, thờ phượng - nhà vua phong thần - Tổ Quốc ghi công, tương xứng địa vị 'Hùng' cao cả, trong quan hệ Tam tài 'Thiên - Địa - Hùng Nhân'.

Trong khi Phật Giáo và Khổng Giáo dừng lại ở chữ Dũng, như Bi - Trí - Dũng, Nhân - Trí - Dũng?

Trung Quốc chỉ đề cao chữ Dũng, cao nhất là 'Cái Dũng của Thánh Nhân' (tên một cuốn sách nói về sự dũng cảm chế ngự thất tình), còn bình thường chỉ là các Dũng sĩ như Kinh Kha, Cao Tiệm Ly, các Dũng tướng như Ngũ Hổ Tướng của Lưu Bị... vì các nhân vật này chỉ trung thành phục vụ cho một nhân vật, không phục vụ cho Quốc Gia & Dân Tộc.

Đó là lý do để Tào Tháo nói với Lưu Bị rằng: 'Trong thiên hạ, chỉ có tôi với ông là bậc anh hùng' - nhưng xét kỹ thấy cả hai đều là 'gian hùng', vì chỉ mưu mô lo tiểu sự cho mình, mà không nghĩ tới đại sự cho Quốc Gia & Dân Tộc?!

Do vậy Người Việt không Bái Thiên - Bái Địa theo cách thông thường của các tôn giáo, mà Bái Nhân Hùng một cách đầy tình lý, qua tín ngưỡng thờ 'Địa Linh - Nhân Kiệt'; nghiã là chỉ đề cao thờ phượng các bậc anh hùng, hào kiệt, liệt nữ có công với dân với nước qua các nơi chốn sinh thành, hoặc diễn ra chiến công cụ thể, thay vì chỉ là những lý thuyết 'bái vọng' xa xôi cách biệt mơ hồ, dễ bị giới tu sĩ lợi dụng làm sai lạc chính kiến, đưa đến thảm cảnh vong thân, vong bản, vong quốc?

Các địa phương giúp các bậc anh hùng liệt nữ làm nên đại sự, cũng được Người Việt coi là đất linh thiêng, nên thường được lập đền thờ tưởng nhớ đến cả người và nơi chốn làm nên các chiến công vệ quốc hiển hách, trở thành danh lam thắng cảnh được tôn tạo & hành hương tưởng nhớ trong các hèm và lễ kỷ niệm hàng năm.

Đây chính là một phương pháp giáo dục tinh thần ái quốc sâu rộng tràn lan khắp nơi, đồng thời bảo tồn không gian lịch sử lâu đời của người Việt - cũng là một cách thần kỳ bảo vệ địa thế quân sự và môi trường tuyệt vời.

Các sự kiện trên cho thấy tín ngưỡng thờ Điạ Linh & Nhân Kiệt của Người Việt mang tính Văn Hoá Giáo Dục gần gũi thân thương tốt đẹp, hơn là tính Tôn Giáo thường mang tính đe dọa gây sợ hãi cách biệt; nên mới có thể duy trì và phát huy tinh thần truyền thống của một dân tộc bất khuất, không chịu luồn cúi thấp hèn trước bất cứ thế lực vô hình hay hữu hình nào.

Đó chính là nguyên nhân đã giúp dân tộc Việt trải qua bao thăng trầm, từng nhiều phen bị các cường quốc đông tây xâm lăng, thống trị, nhưng cuối cùng vẫn có thể vùng lên, giành lại độc lập tự chủ cho Quốc Gia, giữ vững bản sắc Dân Tộc.

Trong tình huống thù trong giặc ngoài giày xéo quê hương, gây chia rẽ suy đồi do Cộng sản Việt Nam vong bản bán nước buôn dân gây ra hiện nay, việc phục hưng tinh thần truyền thống Anh Hùng của cội nguồn dân tộc, qua các tinh hoa văn hóa tư tưởng ẩn tàng trong kho tàng Ca dao, Tục ngữ và Cổ tích - có giá trị hơn cả Kinh Thư & Kinh Thi của Trung Quốc - rất cần phục hồi & khai thác khẩn thiết, hầu có thể giúp đoàn kết Dân Tộc, nêu cao chính nghiã Quốc Gia, quên mọi tỵ hiềm nhỏ nhen do khác biệt tôn giáo, chính trị, giáo dục, xã hội, sắc tộc... bấy nay gây ra; hầu chung lưng đấu cật, mới mong sớm quang phục quê hương, phát triển đất nước theo chiều hướng thăng hoa tốt đẹp nhất.

Một khi nền văn hóa Việt Nam được giới trí thức - vì giới học thức thường bị sở học của mình hạn chế tầm nhìn trở nên co cụm, mà có thành kiến hẹp hòi khó chấp nhận các ý kiến khác - quan tâm nghiên cứu, phát huy... đúng mức, ảnh hưởng sẽ không chỉ hạn hẹp trong một quốc gia, dân tộc. Vì Văn hóa Việt Nam mang tính nhân bản khai phóng cực kỳ công bằng & bác ái, nhưng lại rất thiết tha với gia đình, xã hội, Tổ quốc.

Việc Người Việt nay phải ly hương do thế sự, sinh sống ở nhiều nơi trên thế giới, chính là cơ hội để hoằng dương Triết lý Sống Hùng của Truyền Thống Việt Nam, sán lạn hơn hẳn các Triết lý Đông Tây; tạo sự ngưỡng mộ qúy mến đối với một nền Văn hiến lâu đời, vượt ra ngoài phạm vi Quốc Gia & Dân Tộc, hơn hẳn một số tôn giáo và triết học Đông Tây?

Comments

Post a Comment